Lưu trữ

IOPS là gì?

Còn được gọi là: input/output operations per second
Định nghĩa

IOPS measures how many individual read or write operations a storage device completes per second. Random 4K IOPS at a queue depth of one is the number that predicts database behaviour; sequential throughput is the number that appears in marketing.

Tại sao IOPS quan trọng

IOPS ngẫu nhiên 4K ở độ sâu hàng đợi bằng một là con số dự đoán hành vi của cơ sở dữ liệu; thông lượng tuần tự là con số xuất hiện trong quảng cáo tiếp thị.

IOPS trong thực tế

Khi bạn thực sự chạy máy chủ, IOPS là thứ bạn theo dõi khi truy vấn chậm lại. Bạn nhìn vào độ trễ đọc 4K ngẫu nhiên của cơ sở dữ liệu và xem liệu đĩa có phải là điểm nghẽn không. Nếu có, bạn chuyển sang NVMe hoặc thêm ổ đĩa. Bỏ qua nó và ứng dụng của bạn ì ạch dưới tải, và mỗi truy vấn chậm khiến bạn mất người dùng. Bạn có thể thay đổi cấu hình lưu trữ, nhưng không phải tức thì: chuyển xuống một tầng yêu cầu xây dựng lại và NVMe thêm được gắn như một thiết bị khối thứ hai. Làm sai nghĩa là máy chủ của bạn cảm thấy nhanh trong thử nghiệm nhưng sụp đổ trong sản xuất.

Điều mọi người hiểu sai về IOPS

Quan niệm sai lầm là IOPS là một con số cố định. Nó không phải vậy; nó phụ thuộc vào độ sâu hàng đợi và kích thước khối. Một ổ đĩa có thể tuyên bố IOPS cao ở độ sâu hàng đợi lớn, nhưng điều quan trọng đối với cơ sở dữ liệu là 4K ngẫu nhiên ở độ sâu hàng đợi là một. Sự sửa chữa: nếu bạn so sánh lưu trữ dựa trên các con số tiếp thị, bạn sẽ chọn sai thiết bị. Hãy nhìn vào con số độ sâu hàng đợi một.

IOPS — các câu hỏi thường gặp

Khi kiểm tra IOPS, tôi nên sử dụng độ sâu hàng đợi bao nhiêu?

Đối với khối lượng công việc cơ sở dữ liệu, hãy sử dụng độ sâu hàng đợi là một. Đó là con số dự đoán hành vi thực tế vì hầu hết các truy vấn OLTP đưa ra các lệnh đọc độc lập, duy nhất. Độ sâu hàng đợi cao hơn có thể làm tăng số IOPS nhưng không phản ánh cách cơ sở dữ liệu của bạn thực sự truy cập đĩa.

IOPS khác với throughput như thế nào?

IOPS đếm số thao tác riêng lẻ mỗi giây; thông lượng đo số byte mỗi giây. Một quá trình truyền tuần tự như sao lưu có thể đạt thông lượng cao nhưng IOPS thấp, trong khi cơ sở dữ liệu thực hiện nhiều lần đọc ngẫu nhiên nhỏ, do đó IOPS quan trọng hơn. Tiếp thị thường trích dẫn con số tuần tự.

Thêm từ lưu trữ

NVMe
NVMe là một giao thức lưu trữ kết nối trực tiếp ổ cứng thể rắn qua PCIe, đạt khoảng 500.000 IOPS ngẫu nhiên với độ trễ dưới 100 micro giây.
RAID 10
RAID 10 nhân bản dữ liệu trên các cặp ổ đĩa và chia khối trên các bản nhân bản, mang lại cả dự phòng lẫn hiệu suất cao với chi phí là một nửa dung lượng thô.
Ảnh chụp nhanh
Ảnh chụp nhanh là một bản sao đĩa máy ảo tại một thời điểm cụ thể, được tạo tức thì và lưu trữ trên cùng một hạ tầng.